Báo cáo chỉ số kinh doanh 2014: "Nhận diện" DN Việt Nam
Tiếng Việt

Viện Nghiên cứu và Phát triển Doanh nghiệp

Báo cáo chỉ số kinh doanh 2014: "Nhận diện" DN Việt Nam

14:06 - 02-02-2015

Báo cáo chỉ số kinh doanh 2014: 'Nhận diện' doanh nghiệp Việt Nam

(DĐDN) - Đóng góp to lớn của DN đối với nền kinh tế không chỉ thể hiện bằng việc cung cấp hàng hóa, tạo việc làm, nguồn ngân sách mà nó còn là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chính vì vậy, hỗ trợ DN phát triển là rất cần thiết để phát triển kinh tế quốc dân, mang lại phồn vinh cho xã hội, xây dựng quốc gia vững mạnh.



Sau hơn hai thập kỷ chuyển hướng nền kinh tế sang định hướng kinh tế thị trường, DN Việt Nam đã phát triển rất mạnh mẽ, nhất là khu vực tư nhân, và có những đóng góp rất to lớn trong sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Hàng loạt chính sách đã được Chính phủ ban hành để trợ giúp DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau phát triển và đã phát huy tác dụng tích cực trong việc giúp DN Việt Nam vượt qua khó khăn, phát triển và đóng góp vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên, thách thức đối với DN Việt Nam vẫn không ngừng tăng lên. Tiến trình các Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do (AFTA) và Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang mở ra những cơ hội to lớn cũng như đang đặt ra những thách thức mới buộc các DN Việt Nam phải tiếp tục đổi mới, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế và hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.

So sánh...

Báo cáo Chỉ số Kinh doanh cho phép so sánh tình hình hoạt động tài chính DN giữa các ngành. Những ngành có nhiều DN đạt chỉ số tài chính tốt, gồm: dịch vụ, công nghiệp thực phẩm, bất động sản, cơ khí, công nghiệp khí, công nghiệp phân bón, dược và dụng cụ y tế, thương mại và trồng trọt. Đó là những “phao cứu sinh” cho nền kinh tế. Qua đó cũng có thể xác định được những ngành có thể trở thành “gánh nặng” cho nền kinh tế, khi kết quả kinh doanh của các DN này nằm ở cuối bảng xếp hạng, ví dụ như: chứng khoán, công nghiệp điện tử, khách sạn, thuỷ sản, vận tải, hoá chất, bảo hiểm, thức ăn gia súc, tư vấn và thép.

Báo cáo Chỉ số Kinh doanh có thể cho biết động thái trong từng ngành có thể gây ảnh hưởng đến nền kinh tế. Động thái trong các ngành cũng được thể hiện rõ qua việc so sánh số liệu giữa năm 2014 với 2013. Sang 2014, số DN đạt tiêu chí về giá trên 10.000 đ/CP hay cổ tức EPS trên 15% hoặc cả 2 tiêu chí này tăng ở một số ngành về 2 tiêu chí gồm cơ khí, hoá chất, sách và thiết bị trường học, nhựa và bao bì, vận tải, vật liệu xây dựng; về tiêu chí giá cả gồm bảo hiểm, hạ tầng, điện, dịch vụ, vận tải, vật liệu xây dựng, xây dựng; về tiêu chí EPS gồm Bất động sản, cơ khí, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, dịch vụ, dược và dụng cụ y tế, khoáng sản, may mặc, tư vấn, xây dựng. Trong khi đó, số DN đạt 2 tiêu chí lại giảm ở một số ngành như đường, công nghiệp khí, khoáng sản, may mặc, thuỷ sản, dược và dụng cụ y tế, may mặc, trồng trọt, thương mại và DN đạt 1 chỉ tiêu ở các ngành hầu như đều “trụ”. Điều đó là những dấu hiệu của sự khởi sắc trong những năm tới.

Một dấu hiệu khác là tình trạng “chuyển nhóm” của DN trong từng ngành. Sự chuyển nhóm được coi là tích cực nếu các DN chuyển từ nhóm đạt ít tiêu chí sang nhóm đạt nhiều tiêu chí; và ngược lại, sẽ bị coi là tiêu cực. Kết quả phân tích trong cuốn Chỉ số Kinh doanh 2014 cho thấy chỉ có duy nhất ngành bất động sản thể hiện xu thế chuyển nhóm tích cực; trong khi đó chiều hướng thay đổi ở nhiều ngành là khá tiêu cực, ví dụ như các ngành hạ tầng, khoáng sản, công nghiệp đường, công nghiệp nhẹ, công nghiệp phân bón, dược và dụng cụ y tế, công nghiệp khí, cơ khí, điện, hoá chất, may mặc, thuỷ sản, dịch vụ. Nhiều DN phải xếp vào cột “không có tên” do kết quả hoạt động trong năm giảm sút nên không đạt được bất kỳ chỉ tiêu nào. Những ngành có nhiều DN rơi vào tình trạng này là bất động sản, công nghiệp nhẹ, dược và dụng cụ y tế, may mặc, dịch vụ, xây dựng. Số DN này được giới thiệu trong Cuốn 2 của Báo cáo Chỉ số Kinh doanh 2014 gồm 562 DN (chiếm đến 50%). Tình trạng nhiều DN thay đổi theo chiều hướng “tiêu cực” và tỷ trọng lớn các DN “dưới chuẩn” là những dấu hiệu về tình trạng suy yếu của DN dẫn đến những bất lợi cho nền kinh tế.

Để nhận định “sức vươn” của DN

Báo cáo Chỉ số Kinh doanh cũng cho biết sự tiến bộ trong hoạt động của các DN và của một ngành qua một năm qua sự thay đổi về thứ hạng DN trong ngành và trong tổng số các DN được nghiên cứu. Nếu DN hoạt động hiệu quả hơn, vị trí thứ hạng của DN sẽ được cải thiện (tăng bậc). Ngược lại, nếu DN hoạt động kém hiệu quả so với năm trước hay so với DN khác, thứ hạng của DN sẽ hạ xuống (giảm bậc). Theo Báo cáo, so sánh số liệu giữa hai năm 2014 và 2013, xét theo thứ hạng DN trong tổng số DN, duy nhất ngành điện có 5 DN tăng bậc và không có DN giảm bậc. Điều đó chứng tỏ hoặc các DN đang hoạt động đã cải thiện được tình trạng hoạt động so với năm trước và/hoặc so với các DN được xét. Trong khi đó, nhiều ngành phải chứng kiến tình trạng có DN giảm bậc, ví dụ như công nghiệp đường, công nghiệp thực phẩm, cơ khí, dịch vụ dầu khí, hoá chất, công nghiệp điện tử, may mặc, nhựa và bao bì, thương mại, thuỷ sản, trồng trọt, xây dựng. Ở một số thứ hạng của ngành hầu như không thay đổi, nhưng nguyên nhân là do số lượng giảm bậc được cân đối bởi số DN tăng bậc như ở ngành bất động sản, hạ tầng, dược và dụng cụ y tế, dịch vụ, vận tải. Thực tế này cho thấy có sự phân hoá trong nội bộ ngành, có một số DN đứng vững và phát triển, trong khi có một số DN khác rơi dần vào “vòng xoáy” của sự suy thoái.

Báo cáo Chỉ số Kinh doanh có thể cho biết tình trạng sức khoẻ của DN trong từng ngành. Tình trạng “sức khoẻ lý tưởng” của DN, xét từ góc độ các chỉ tiêu tài chính, được phản ánh qua hệ thống các mức chuẩn tối ưu của các chỉ tiêu. Một sự thay đổi về chỉ số của một DN giữa hai năm tiến gần đến mức chuẩn tối ưu của chỉ tiêu đó hơn sẽ được ghi nhận là có “tốt lên”. Ngược lại, nếu có sự thay đổi theo hướng rời xa mức chuẩn tối ưu, tình trạng sẽ được ghi nhận là “yếu đi”. Sức khoẻ của DN được xét trên cả 21 chỉ số tài chính được chia thành 6 nhóm chỉ tiêu. Trong số 254 trong số 391 DN năm 2013 còn “trụ hạng” đến 2014 để có kết quả so sánh, số lượng chỉ số được ghi nhận “tốt lên” cân bằng với số lượng được ghi nhận “yếu đi” (49,6% “tốt lên”, 49,7% “yếu đi”). Điều đó cho thấy, tình trạng tài chính DN của nền kinh tế qua các DN được xét, về cơ bản không thay đổi trong năm 2014 so với 2013. Tuy nhiên, xét đến phạm vi ngành, mức độ cải thiện (“tốt lên”) ở các chỉ số tài chính lại rất khác nhau và giao động từ 67,3% đến 31,9%, cao nhất là 81% ở ngành du lịch, thấp nhất là 28,6% ở ngành thức ăn gia súc. 

Có thể chia DN thành 4 nhóm: (1) Nhóm ngành có mức cải thiện trên 60%, gồm 5 ngành với tổng số 24 DN là du lịch, đa ngành, không phân ngành, hoá chất, công nghiệp nhẹ; (2) Nhóm ngành có mức cải thiện từ 50% đến 60%, gồm 11 ngành với tổng số 109 DN là công nghiệp khí, cao su, vận tải, vật liệu xây dựng, cơ khí, dược và dịch vụ y tế, may mặc, công nghiệp thực phẩm, sách và thiết bị trường học, xây dựng, khoáng sản; (3) Nhóm ngành có mức cải thiện từ 40% đến 50%, gồm 15 ngành với tổng số 119 DN là dịch vụ, tư vấn, thương mại, chứng khoán, thép, dịch vụ dầu khí, công nghiệp đường, công nghiệp phân bón, nhựa và bao bì, hạ tầng, điện, thuỷ sản, bảo hiểm, khách sạn; (4) Nhóm ngành có mức cải thiện dưới 40%, gồm 3 ngành với tổng số 15 DN là công nghiệp điện tử, trồng trọt, Thức ăn giá súc.

Những số liệu của trên 1088 DN niêm yết trên các sàn chứng khoán được giới thiệu trong hai cuốn của Báo cáo không thể đại diện cho toàn cảnh kinh tế Việt Nam. Mặc dù vậy, chúng vẫn được coi là những số đo “phong vũ biểu” của mọi nền kinh tế.

Báo cáo Chỉ số Kinh doanh có thể cho biết tình trạng cải thiện ở các DN trong từng ngành. Trong số những DN được xét – DN có số liệu có thể so sánh của hai năm 2013 và 2014 – có đến 16 ngành gồm 92 DN được xét (chiếm 35%) có từ 50% số DN trở lên có số lượng chỉ số được cải thiện đạt trên 50%. Đặc biệt ở một số ngành, con số này đạt rất cao, ví dụ như du lịch, đa ngành (100% số DN được xét), không phân ngành, vận tải, công nghiệp cao su, cơ khí, tư vấn (67%). Ngược lại, ở một số ngành, không ghi nhận có sự cải thiện nào là các ngành dịch vụ dầu khí, bảo hiểm, chứng khoán, thức ăn gia súc hoặc cải thiện đáng kể như thương mại, thuỷ sản (dưới 20%).

Mức độ cải thiện ở cấp độ DN được thể hiện qua số lượng các chỉ tiêu được ghi nhận “tốt lên”. Số lượng chỉ tiêu nhiều nhất được cải thiện (ghi nhận là “tốt lên”) của một DN thuộc diện được xét thuộc một ngành có thể từ 3/21 chỉ số (chiếm 14%) ở ngành bảo hiểm, lên đến 19/21 chỉ tiêu (chiếm 90%) như ở ngành may mặc. Số lượng ngành có DN trong diện được xét ghi nhận có sự cải thiện đạt trên 60% số chỉ tiêu là 21 ngành với số DN được xét là 215 DN (= 81%), trong đó có đến 95 DN (chiếm 88%) có số lượng các chỉ tiêu được cải thiện chiếm trên 70% (15/21 chỉ tiêu).

Trên đây là một số phân tích mang tính minh hoạ về giá trị sử dụng của Báo cáo Chỉ số Kinh doanh 2014 đối với các nhà nghiên cứu, phân tích, hoạch định chính sách, các nhà đầu tư hay quản lý DN.

Hiển nhiên, những số liệu của trên 1088 DN niêm yết trên các sàn chứng khoán được tổng hợp, phân tích và giới thiệu trong hai cuốn của Báo cáo không thể đại diện cho toàn cảnh bức tranh nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù vậy, như thường thấy, chúng vẫn được coi là những số đo “phong vũ biểu” của mọi nền kinh tế. Để có căn cứ vững chắc hơn cho việc ra quyết định quản lý hay chính sách vĩ mô, phạm vi DN nghiên cứu cần được mở rộng sang các đối tượng khác. Việc mở rộng là có thể thực hiện được với sự trợ giúp đắc lực của công nghệ thông tin và mạng internet.

Khi đó, những thông số nêu trong Báo cáo này sẽ trở thành những “chuẩn mực so sánh” (bench-marks) cho các DN khác. Lợi ích tiềm năng này sẽ được Chương trình tiếp tục khai thác và phát huy.

Để trợ giúp phát triển DN một cách thiết thực và hữu hiệu, Viện Nghiên cứu và Phát triển DN (INBUS) thuộc Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT), Báo Diễn đàn DN (DĐDN) thuộc Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA), Hội Doanh nhân Trẻ Việt Nam (VYEA), Hội các Nhà Quản trị DN Việt Nam (VACD) cùng phối hợp triển khai Chương trình Đánh giá Năng lực Hoạt động DN được tiến hành hằng năm bắt đầu từ năm 2013. Kỳ vọng của Chương trình là xây dựng một khuôn khổ cho việc đánh giá năng lực hoạt động của DN, dựa trên phương pháp “chỉ số hoá”, có thể vận dụng cho các nhà quản lý DN, các nhà đầu tư, nghiên cứu, phân tích về các khía cạnh cơ bản trong hoạt động của DN. Chỉ số kinh doanh (Business Indexing) là sản phẩm của Chương trình, được biên soạn dưới hình thức báo cáo thường niên nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu, quản lý, phân tích và đầu tư những thông tin cơ bản về hoạt động của DN thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong một năm và những thay đổi đạt được so với năm trước. Cùng với những công cụ khác của Chương trình, Chỉ số kinh doanh cung cấp cho các nhà quản lý DN, các nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu những phương tiện hữu hiệu để tự phân tích, đánh giá năng lực hoạt động của DN theo tiêu chuẩn quốc tế.

Năm 2013, số lượng DN được khảo sát là 391, sang năm 2014, số lượng DN được xử lý tăng lên 1088 DN, được chia thành 34 ngành. Báo cáo chọn đối tượng nghiên cứu là các DN niêm yết vì hai lý do sau. Thứ nhất, thị trường chứng khoán (TTCK) luôn được nhiều nhà nghiên cứu coi là phong vũ biểu của nền kinh tế. Thứ hai, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của các thông tin về DN do được tập hợp độc lập, khách quan thông qua các báo cáo tài chính có kiểm toán của các DN niêm yết.


Trích dẫn Báo diễn đàn Doanh nghiệp.